Zippo- ngọn lửa từ góc khuất quá khứ

18-11-2009 |

Hàng trăm ngàn lính Mỹ đã mang theo Zippo sang Việt Nam. Ở đây, Zippo còn hơn là một chiếc bật lửa. Zippo đã trở thành những nhân chứng biết nói về tâm trạng của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Zippo là một trong những đặc sản của nước Mỹ. Chiếc bật lửa mạ kền có dáng vẻ cục mịch này thậm chí còn tương đối bất tiện vì to và nặng, vướng víu khi cho vào túi quần, túi áo. Vậy mà nó đã tồn tại một cách danh giá suốt hơn ba phần tư thế kỷ qua, khẳng định được vị trí lịch sử không chỉ tại Mỹ mà còn ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Nó nổi tiếng đến mức chỉ cần nói Zippo là mọi người đều hiểu ngay đó là một cái bật lửa. Nhìn từ một phương diện khác, nó còn là ngọn lửa soi sáng một góc khuất trong lòng nước Mỹ với đầy rẫy những biến cố phức tạp mà người Mỹ muốn chôn vùi vào quên lãng, trong đó có cả cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Sự ra đời của Zippo
Cha đẻ của Zippo là George G. Blaisdell. Sinh ngày 5/6/1895 tại Bradford, Pennsylvania, George G. Blaisdell, về bề nổi, được coi là người gặt hái nhiều thành công vào những năm khó khăn nhất của cuộc Đại khủng hoảng xảy ra tại Mỹ từ 24/10/1929. Ông là người ít học và rất ghét trường học. Ông bỏ học từ năm lớp 5và tuyên bố thẳng thừng với gia đình là sẽ không bao giờ đến trường nữa. Sau đó, cha ông đã gửi ông tới một học viện quân sự với hy vọng cậu con trai sẽ được giáo dục tốt hơn với kỷ luật thép của quân đội. Thế nhưng, George G. Blaisdell cũng chỉ học hết năm thứ hai của học viện và bỏ học ngay trước khi nhà trường ra quyết định buộc thôi học.

Thất vọng với việc học hành của quý tử, cha của George G. Blaisdell đưa ông tới làm việc tại doanh nghiệp của gia đình : Công ty cơ khí Blaisdell. Tại đây, George G. Blaisdell học về kim khí, gia công kim khí với các kỹ năng điêu luyện mà gần 30 năm sau trở thành nền tảng quý giá cho sự ra đời của những chiếc bật lửa Zippo.

George G. Blaisdell, cha đẻ của Zippo
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, George G. Blaisdell bắt quản lý doanh nghiệp của gia đình. Ông đã bán doanh nghiệp và đầu tư toàn bộ số tiền thu được vào ngành dầu mỏ. Nhưng ngay sau đó ngành dầu mỏ cũng như toàn bộ các ngành kinh tế khác rơi vào vòng xoáy khủng hoảng của cuộc Đại khủng hoảng. Và trong bối cảnh đó, George G. Blaisdell quyết định thành lập Zippo vào năm 1932 ngay chính trên mảnh đất quê hương. Quyết định của ông từng bị coi là điên rồ và bất khả thi.

Sarah Dorn – con gái của George G. Blaisdell đã từng nói về cha mình và những ngày đầu của Zippo như thế này: “Cha tôi rất ghét những công việc liên quan đến dầu mỏ. Ông không hề giỏi về lĩnh vực này. Ông cũng không hề có tố chất cho những việc tương tự. Điều duy nhất ông biết vào những năm 30 của thế kỷ 20 là ông phải làm một việc gì đó, bởi vì đây là thời kỳ cực kỳ khó khăn, căng thẳng. Lúc đó ông cũng chẳng có nhiều tiền. Ông phải nhờ vả người này người nọ để có tiền mở Công ty sản xuất bật lửa Zippo. Chẳng có ai tin vào ý tưởng của ông. Và vào thời điểm đó, kế hoạch của ông quả thật là ngốc nghếch. Xin hãy tưởng tượng nếu một người sản xuất và bán một cái bật lửa vớ vẩn với giá tiền mà có thể nuôi sống cả một gia đình trong một thời gian dài vào thời kỳ Đại khủng hoảng thì có thể nói người đó không điên cũng mất trí. Vậy điều gì khiến ông quyết tâm làm?. Theo tôi, nó nhuốm màu tuyệt vọng và liều lĩnh. Ông bắt buộc phải làm việc này cho bản thân và gia đình, bởi vì, lúc đó không còn con đường nào khác”.

Chiếc Zippo đầu tiên được George G. Blaisdell bắt đầu làm từ cuối năm 1932 và hoàn thành vào đầu năm 1933. Trên chiếc bật lửa còn có khắc dòng chữ cho chính tay George G. Blaisdell viết: “Chiếc Zippo đầu tiên, cấm sờ vào hiện vật”. Hiện nay nó đang được trưng bày tại Bảo tàng Zippo tại Bradford.

Từ đó đến nay, hàng chục triệu chiếc Zippo đã được chế tác và có mặt ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Người ta còn mở hẳn một bảo tàng để trưng bày và tôn vinh nó.
Bảo tàng Zippo
Được thành lập từ năm 1997, cho đến nay, Bảo tàng Zippo tại Bradford – Penncylvania đã thu hút hàng triệu lượt khách tham quan. Tâm điểm của bảo tàng là 75 chiếc Zippo độc đáo được chế tạo đặc biệt nhân các dịp kỷ niệm thành lập Zippo. Đã có người dám bỏ ra hàng triệu USD để được làm chủ nhân của bộ sưu tập độc nhất vô nhị này nhưng không toại nguyện, vì như George G. Blaisdell nói: “có những thứ làm ra không phải để bán”.

Đến với bảo tàng, du khách còn được hưởng một thứ vui nữa là tự tay làm những chiếc Zippo cho riêng mình hoặc bạn bè, người thân. Với những phôi vỏ hộp, bánh răng, lẫy, thân rỗng và sự hướng dẫn tỷ mỷ của các nhân viên lành nghề, chỉ trong thời gian ngắn bạn sẽ trở thành chủ nhân của một chiếc Zippo có một không hai. Bởi vì, cho dù bạn có tự tay chế tạo chiếc thứ hai thì nó cũng không thể hoàn toàn giống với chiếc đầu tiên. Đó cũng nguyên tắc “tính độc đáo” trong phương châm kinh doanh của Zippo.

Nếu bạn có dịp đi du lịch đến Bradford thì đừng bỏ lỡ dịp. Xin cung cấp cho các bạn địa chỉ sau đây: 1932 Zippo Drive Bradford, PA 16701.
Đánh lửa Zippo – “nghề chơi cũng lắm công phu”
Cách đánh lửa bằng Zippo được coi là biểu hiện đẳng cấp trong dân chơi Zippo trên toàn thế giới. Nếu chỉ biết đánh lửa theo cách thông thường là mở nắp, lấy ngón tay cái gại vào bánh răng để phát ra tia lửa thì “trình độ” chỉ là “thấp như gián” (theo ngôn ngữ của dân chơi sành điệu). Theo thống kê có tới gần một trăm kiểu đánh lửa Zippo. Những người điêu luyện có thể đánh lửa bằng cả 10 đầu ngón tay. Rút bật lửa ra khỏi túi là đã có lửa. Ở bất kỳ tư thế nào cũng có thể đánh lửa.

Thế nhưng, chưa thấm tháp gì so với các “siêu cao thủ”. Với “công phu thượng thừa”, họ có thể đánh lửa bằng mọi bộ phận trên cơ thể, thậm chí bằng cả… lưỡi. Nếu ai đã từng tới Nhật Bản hẳn biết về khu Kabukichyo - một điểm ăn chơi nổi tiếng thế giới của Tokyo. Tại đây có một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy tên là Kamimura Masatoshi. Là tiếp viên nam trong một hầm rượu ở Kabukichyo, Kamimura được biết tới là người bán được nhiều hàng nhất, thu nhập cao nhất trong số các tiếp viên ở đẳng cấp “quý tộc” tại Nhật Bản. Thu nhập của anh có lúc lên tới hơn 30.000 USD một đêm. Thu nhập này là do lương cộng với hoa hồng thu được từ lượng rượu, bia, thuốc lá bán được trong đêm ấy.
Kamimura có động tác pha cocktail duyên dáng, phong cách hấp dẫn, thông minh, hiểu biết. Thế nhưng, “độc chiêu” của anh lại là nghệ thuật đánh lửa Zippo. Một quý bà vừa vào quán, rút một điếu thuốc ra cầm tay, lập tức Kamimura xuất hiện không biết từ đâu và cũng không ai biết anh để bật lửa ở đâu, với một động tác kỳ bí, hấp dẫn như ảo thuật gia David Corperphin, ngọn lửa bùng lên từ ống tay áo sau tiếng “ti..i..i..inh” trong vắt kéo dài rất đặc thù của Zippo. Sự ngạc nhiên thú vị còn tăng hơn nữa khi Kamimura rút tay ra khỏi túi quần là đã có một ngọn lửa bập bùng trên 2 ngón tay điệu nghệ cứ như thể anh giấu sẵn lửa trong người để khi cần thì tự nhiên rút ra vậy.

Màn biểu diễn Zippo của Kamimura chỉ thực sự bắt đầu vào nửa đêm lúc mà khách đã trở nên hưng phấn hơn sau vài tuần rượu. Vẻ mặt điển trai đầy nam tính, bước chân uyển chuyển, tự tin của kẻ biết mình đang thống trị, Kamimura mềm mại với những điệu tango hoặc valse quyến rũ biểu diễn hàng loạt cách đánh lửa Zippo độc đáo trong tiếng vỗ tay rào rào tán thưởng.

Người ta còn đặt tên cho các cách đánh lửa của anh theo cách đặt tên các chiêu thức trong võ thuật. Ví dụ như cách đánh lửa hai tay hai Zippo, cuốn từ trong người cuốn ra rồi dâng đến trước mặt khách hàng được gọi là “thần viên hiến quả” (tức là vượn thần dâng hoa quả). Còn cách bật lửa từ chỗ bí mật rồi bất ngờ xoè lửa được gọi là “Độc long xuất động” (Rồng thiêng ra khỏi hang)… v.v và v.v… Để được ngồi trò chuyện và xem Kamimura chơi Zippo, các quý bà, quý ông phải trả tới 700USD/giờ.

Với gần 8 năm khổ luyện, Kamimura đã biến việc đánh lửa Zippo thành môn nghệ thuật biểu diễn có thể hái ra tiền.

Bảo tàng Zippo tại Mỹ



Zippo - ngọn lửa từ góc khuất quá khứ


Và ai cũng biết, Zippo là một chiếc bật lửa hết sức đơn giản, vuông vức, có vỏ mạ crome sáng bóng, dùng bánh răng, đá lửa và xăng, nhưng nhạy đến mức chỉ một cái búng ngón tay là ngọn lửa bùng lên kèm theo tiếng “keng” trong trẻo khi chiếc nắp bật ra hoặc đóng lại. Có thể sử dụng trong mọi điều kiện thời tiết với độ bền ngoài sức tưởng tượng. Chính vì vậy, nó thích hợp với những chuyến đi xa.
(Nguồn bài viết:VOV.Hình ảnh:Tổng hợp)
>>Read more

Con nhân mã ở trong vườn

13-11-2009 |

Con nhân mã ở trong vườn (The Centaur in the Garden) là kiệt tác của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo do một trong những tiểu thuyết gia lừng lẫy nhất hiện sống tại Brazil sáng tác: Moacyr Scliar, được dịch sang 49 thứ tiếng trên thế giới, bản Việt ngữ của Trịnh Lữ, 472 trang, NXB Văn học, Hà Nội 2005.

Một đứa bé hồng hào đã ra đời, khỏe mạnh, khóc thét và làm bà đỡ, mấy cô hộ sinh, cha nó, mẹ nó phải kinh hãi, vì nó là "một đứa trẻ bình thường từ thắt lưng trở lên" nhưng "từ thắt lưng trở xuống là lông ngựa, những bàn chân của một con ngựa, những bộ móng ngựa và một cái đuôi ngựa vẫn còn đẫm nước ối". Nó nửa người nửa ngựa, một con nhân mã chính cống, suýt bị bà đỡ lấy gối để đè chết nhằm "chấm dứt một tai họa". Nhưng cũng may, bà ta đã dừng tay kịp, để con nhân mã sống sót, lớn lên, với cái tên Guedali và mang theo một thông điệp vào đời. Đó là con người bất toàn như nhân mã (hoặc nửa bò nửa heo nửa chim nửa rắn nửa rồng) bị lồ lộ dị tật ra ngoài, nên lần đầu khi yêu, chàng Guedali đã tự thuật: "Tim tôi đập điên loạn. Móng tôi cào cào xuống sàn nhà, bồn chồn hơn bao giờ hết (…). Nàng có thấy tôi không? Tôi chạy ù ra khỏi cái gương soi. Không, tôi đâu có xấu xí gì. Mái tóc bờm xờm dễ coi, đôi mắt đẹp, mũi thẳng, cái miệng đầy đặn rõ nét. Chỉ vài nốt trứng cá trên trán. Tôi thực sự là một chàng trẻ tuổi đẹp trai. Nhưng bên dưới, nhân mã, nhân mã, nhân mã không thể cứu vãn được". Rồi số phận bi thảm đã xô đẩy Guedali vào một gánh xiếc. Những ngày tháng lang thang, xấu hổ, vì không giấu được cái đuôi ngựa của mình. Thật bất công, những con người đê tiện, lừa dối, tham lam nhưng họ đã giấu tất cả đằng sau dáng điệu rất người, rất dịu dàng của họ, còn Guedali lại phải lòi cái phần ngựa của mình ra ánh sáng. Đi đâu anh cũng nghe tiếng thở dài trong gió. Đến ngày kia, một cuộc giải phẫu cắt bỏ hoàn toàn phần ngựa đó để giúp Guedali thoát hình thù nhân mã, nhưng điều gì sẽ xảy ra sau đó? Người dịch, Trịnh Lữ viết: "Tôi thấy mình cũng giống như Guedali, nhân vật chính trong chuyện, suốt đời thèm được mọi người chấp nhận, cố hết sức để có được điều đó, đến khi có rồi lại chợt điên cuồng nhớ tiếc con người thật của mình".

Tiểu thuyết xuất sắc này được National Yiddish Book Center bình chọn là một trong số "100 tác phẩm lớn nhất của văn học Do Thái hiện đại" và Stavans (The University of Wisconsin Press) so sánh ngang với các tác phẩm của Franz Kafka, Nikolai Gogol, Philip Roth, Mordecai Richler, John Updike...

Giao Hưởng
Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)
>>Read more

Giải mã bí mật cuối cùng của Hitler

|


Hơn 60 năm sau, nhiều bí mật đã được hé lộ xung quanh đời tư và cái chết của trùm phát xít Adolf Hitler, người từng trực tiếp tiến hành nhiều cuộc chinh phạt đẫm máu với mục đích mà hắn cho là để thống trị các dân tộc "hạ đẳng"...

Một con bệnh nghiện hút

Theo nhà nghiên cứu Liaberman, người xây dựng bộ phim tài liệu về Hitler, ông trùm Đức Quốc xã đã sử dụng thuốc phiện từ năm 1932. Bác sĩ riêng của Hitler cho biết, ông này trở thành một con nghiện và hậu quả là đã mắc một số bệnh vận động. Trên phim của Liaberman, cánh tay trái của Hitler luôn buông thõng, ít cử động là dấu hiệu của bệnh Parkinson - một loại bệnh vô phương cứu chữa thời đó. Năm 1944, ở tuổi 56, hai tay của ông trùm Quốc xã run rẩy, trông bộ dạng của Adoft Hitler như một ông lão 70 tuổi ốm o, hay cáu gắt, cực đoan, thô bạo và nghi kỵ mọi người.
Hitler và Eva Braun: Kẻ tránh né, người lo toan.

Một mối tình câm lặng


Từ tháng 1/1933, khu hầm ngầm bí mật nổi tiếng nhất thế giới nằm gần tòa nhà Quốc hội bắt đầu được xây dựng. Mãi đến tháng 6/1936 hầm ngầm này được hoàn thành, gồm 19 phòng, bên trong bọc bêtông dày 1,6m. Sau ngày 18/1/1943, khu hầm ngầm này bị hàng trăm máy bay Anh dội bom. Hitler lệnh cho xây mới một boong-ke, xa hơn, sâu hơn, bọc tường bê-tông dày từ 2,8-8m, 30 phòng ngoài dành cho vệ binh, 15 phòng trong rộng nhất 300m2 dành cho Quốc trưởng và người tình Eva Braun mà chỉ riêng chỉ huy SS. Gerben và bác sỹ riêng của Hitler được phép vào.

Tới giữa tháng 4/1945, Eva đã đặt vấn đề kết hôn với người từng 15 năm "già nhân ngãi non vợ chồng" và một lễ cưới nhanh gọn đã được tổ chức. Người tình của ông trùm phát xít được ca ngợi như một người đầy lòng chung thủy, người đã gắn bó, chịu đựng cả chục năm trời với một bệnh nhân thần kinh đã qua một lần đột qụy, thiếu hẳn chuyện "chăn gối"...? Khi lá cờ đỏ búa liềm được cắm lên tòa nhà Quốc hội, đội lùng sục dấu tích Hitler của Trung tá Ivan Klimencov phát hiện hai xác người cháy thui lấp vội dưới hố đại bác cách vài ba mét gần lối phụ vào hầm Quốc trưởng, gần đó còn một cái giỏ đựng xác hai chú chó. Phải chăng đây là những nhân chứng vật chứng mà lịch sử đang cần tìm? Việc giữ độc quyền về sự sống chết của trùm phát xít được giữ tuyệt mật theo lệnh của I. Stalin và nhà nước Xô Viết cho tới mãi về sau.

Những đồn đại dai dẳng


Có lẽ từ cả hai phía Liên Xô và Anh - Mỹ đều phát ra những chuyện ly kỳ về ngày tận số của Đức Quốc xã, các nhân vật chóp bu người bay sang Nam Mỹ, kẻ trốn lên phía Bắc... riêng Hitler có giả thiết đã thoát lên căn cứ quân sự tuyệt mật được xây dựng từ năm 1938 tại Neuschwabenland ở Nam Cực mang mật danh "Nam Cực 211". Qua hơn 11.000 bức ảnh được chụp, năm 1947, người Mỹ đã không biết liệu tên tội phạm này vẫn sống an toàn ở đây cho đến cuối đời (?) hay đã trốn sang Nam Mỹ như tin đồn khác?...

Giải mật

4 giờ 30 phút sáng ngày 29/4/1945, qua cả đêm không chợp mắt, Hitler gắng gượng trở dậy, uể oải đi lại rồi ngồi vào bàn, tay run run đặt bút ký vào mấy dòng di chúc viết sẵn: "Để tránh nỗi nhục nhã phải đầu hàng không điều kiện hay bị kẻ khác tiếm quyền, chính tôi và vợ tôi đã chọn cái chết. Chúng tôi mong thi thể của chúng tôi sẽ được đốt và thủ tiêu để không lọt vào tay đối phương...".

Gần trưa ngày 30/4, sĩ quan cận vệ SS. Linnher phát hiện hai xác chết, liền gọi ngay bạn cùng trực Gunter, đọc tờ giấy còn chặn ngang chiếc bút trên bàn và gọi ngay lái xe riêng của Quốc trưởng, Trung úy Erich Kempa mang can xăng ra cửa hầm phụ. Mãi ba ngày sau, quân của Trung tá Klimencov mới phát hiện ra lỗ chôn vội hai xác nam nữ cháy thui khả nghi. Người của KGB từ Moscow tức tốc bay sang Berlin trực tiếp chỉ huy việc bảo mật, đưa hai xác đen thui không nhận ra mặt mũi và xác hai con chó tới căn cứ an toàn của KGB tại thành phố Magdeburg thuộc Đông Đức và lệnh phong tỏa nghiêm ngặt, thu dọn "sạch sẽ" toàn bộ khu hầm ngầm để nhanh chóng cho nổ tung, xóa sạch mọi dấu tích.

Người đề xuất quyết định vĩnh viễn khép lại tàn tích khó xử về thây ma chính trị Hitler là Đại tướng Iuri Andropov. Ngày 1/1/1970, ông trực tiếp chỉ đạo đại tá N.G. Kovalencov thực hiện chiến dịch "lưu trữ": khai quật và thiêu hủy hai xác Hitler-Eva và rải tro xuống sông. 9 hồ sơ tuyệt mật cuối năm 2007 được Cơ quan An ninh Liên bang Nga công bố, "siêu mật" là hai hồ sơ gồm 5 trang viết tay: 3 trang biên bản khai quật ngày 4/5 và 2 trang biên bản thiêu xác rải xuống sông ngày 5/5 do chính tay Đại tá chỉ huy trưởng đơn vị đặc biệt 92626 KGB viết để giữ bí mật tuyệt đối.
Theo:suckhoa&doisong
>>Read more

Một bài hát hay về Quảng Bình:)

|
"Trọn nghĩa vẹn tình,vì quê ta Quảng Bình"


>>Read more

Lịch sử cây thuốc lá

|
Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4.000 năm, trùng với văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ. Lịch sử chính thức của việc sản xuất thuốc lá được đánh dấu vào ngày 12/10/1492 do chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos.

Hàng ngàn năm trước Công nguyên, người da đỏ đã trồng thuốc lá trên vùng đất mênh mông ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, quần đảo Antil và một số nơi khác.

Thuốc lá được đưa vào châu Âu khoảng năm 1496-1498 do Roman Pano (nhà truyền đạo Tây Ban Nha) sau khi đi châu Mỹ về. Năm 1556, Andre Teve cũng lấy hạt thuốc lá từ Brazil đem về trồng ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Jean Nicot, Đại sứ Pháp ở Lisbon dã dâng lên nữ hoàng Pháp Featerina Mechssi những cây thuốc lá đầu tiên. Theo ông thuốc lá có thể xua đuổi bệnh đau đầu, bằng cách cho người bệnh ngửi bột thuốc.

Thuốc lá được trồng ở Nga vào năm 1697 do Petro Valeski sau cuộc viếng thăm Anh và một số quốc gia khác đem về. Vua Sulemam cho trồng thuốc lá ở Bungari vào khoảng năm 1687.

Tại Đức từ năm 1640 đã có nhà máy sản xuất thuốc lá điếu ở Nordeburg và vào năm 1788 đã có xưởng sản xuất xì gà tại Hamburg.



Tại các nước châu á, Thái Bình Dương, thuốc lá được trồng vào thế kỷ 18.



Ngành kỹ thuật trồng trọt, công nghệ sinh học đã phát triển rất nhanh chóng để sản xuất đa dạng các loại nguyên liệu thuốc lá đáp ứng cho công nghiệp chế biến, nhu cầu thị hiếu đa dạng về thuốc điếu và đặc biệt để xuất khẩu.



Trong thời gian dài, thuốc lá được gọi rất nhiều tên như La Herba Sanena (cây làm thuốc), Herba Panacea (cây thuốc trị mọi bệnh), L’Herbe etrange (cây làm thuốc dị thường), L’Herbe d’Ambassadeur (cây kỷ niệm tên Đại sứ ở Lisbon). Sau đó các tên mất dần chỉ còn lại tên gọi Nicotiana để kỷ niệm tên Jean Nicot, người có công truyền bá trồng thuốc lá ở châu Âu. Ngày nay nhiều nước có tên gọi thuốc lá giống nhau là Tabacco (Anh, Mỹ), Tabak (Đức, Nga), Trutrun (Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari), Tutun (Rumania)... Còn tên khoa học của cây thuốc lá vàng là Nicotiana Tabacum L.




Thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên khác nhau, tiêu chí khác hẳn thời nguyên thủy. Phạm vi phân bổ vùng trồng từ 40 vĩ độ Nam đến 60 vĩ độ Bắc, nhưng tập trung nhiều ở vĩ độ Bắc. Thuốc lá có tính di truyền phong phú, tính thích ứng rộng rãi, dưới sự tác động trực tiếp của con người, ngày nay thuốc lá có nhiều đặc trưng phẩm chất, ngoại hình khác nhau. Có thể kể đến loại thuốc lá vàng sấy có hương vị độc đáo là Virginia (Hoa Kỳ, Zimbabwe...), thuốc lá Oriental - đặc sản của vùng Địa trung Hải, xì gà nổi tiếng của Cuba và Sumatra (Indonesia).



Việc hút thuốc lá lan nhanh sang các nước châu Âu. Năm 1561, Jean Nicot, đại sứ Pháp ở Lisbone, đã giới thiệu bột thuốc lá với bà hoàng Catherine de Medici, người bị chứng đau nửa đầu. Bột thuốc lá gây ra hắt hơi, cơn đau của bà hoàng dịu đi. Điều đó làm giới quý tộc Pháp ngạc nhiên, nhưng lại khởi đầu cho việc dùng thuốc lá như một cách sống hợp thời trang thú vị trong giới qúi tộc. Để tỏ lòng ngưỡng mộ Nicot, thuốc lá còn được gọi là Nicotine.



Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã mở đường cho cuộc “Phát kiến địa lý”, dẫn đến sự mở rộng phạm vi buôn bán thế giới và sự phát triển nhanh chóng của thương nghiệp và công nghiệp. Các nước Hà Lan, Anh, Pháp, Bỉ cũng đua nhau đi tìm kiếm thị trường buôn bán trên thế giới. Thuốc lá là một trong những hàng hóa quan trọng được các nước châu Âu mang tới châu á, châu Phi.



Đến năm 1592, một thế kỷ sau khi Colombus phát hiện ra châu Mỹ, thuốc lá đã được trồng ở Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Anh. Sau đó lan ra Philippines, ấn Độ, Java, Nhật, Tây Phi, Trung Quốc và các lái buôn đã mang thuốc lá đến tận Mông Cổ và Sibêri.



Bước sang thế kỷ XVII, thuốc lá đã gây ra tranh cãi ở châu Âu. Thuốc lá đã phân chia quan điểm xã hội, nhưng chính phủ các nước châu Âu không thể ngăn cấm vì những khoản tiền khổng lồ thu được từ thuế thuốc lá cho ngân sách quốc gia.



Đến thế kỷ XVIII, XIX các nước Âu - Mỹ hoàn thành cách mạng công nghiệp. Các phát minh khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp. Ngành công nghiệp thuốc lá ra đời và thu được lợi nhuận to lớn hơn trước.



Năm 1881, James Bonsack, một người Virginia (Mỹ), phát minh ra chiếc máy có thể sản xuất 120.000 điếu thuốc/ngày.




James “Buck” Duke, người mà 21 năm sau trở thành chủ tịch đầu tiên của công ty B.A.T (Công ty Thuốc lá Anh - Mỹ), đã mua 2 máy và công ty sản xuất thuốc lá sợi của gia đình ông đã chuyển sang sản xuất thuốc lá điếu. Thuốc lá điếu dần dần thay thế cho các loại thuốc lá dùng tẩu, loại nhai và thuốc lá bột để hít.

Cuối thế kỷ XIX, suốt thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền. Các công ty nhỏ lần lượt phá sản hoặc bị hút vào các công ty lớn - các tập đoàn sản xuất độc quyền - có nhiều vốn, áp dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến, năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao, để dần dần chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Ngành công nghiệp thuốc lá diễn ra quá trình tập trung hóa như các ngành sản xuất khác. Các tập đoàn thuốc lá đa quốc gia như B.A.T, Philip Morris (Mỹ), Japan Tobacco International (Nhật), Imperial và Gallaher (Anh), Tập đoàn Altadis Franco - Spanish (Pháp - Tây Ban Nha)... hiện đang chi phối thị trường thế giới về trồng thuốc lá, phối chế, sản xuất thuốc sợi, thuốc điếu, các máy móc chuyên dùng và tất cả các phụ liệu cho sản xuất thuốc lá.

Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập cũng chú ý phát triển ngành công nghiệp thuốc lá, như Trung Quốc, Indonesia, Triều Tiên, ấn Độ, Philippines, Ai Cập, Pakistan, Việt Nam...

(Tổng hợp)
>>Read more

Độc đáo cà phê Việt

|



Uống cà phê thường được kết hợp chung với nhiều việc, tất nhiên, không kể những lúc chúng ta đang hội họp, hay có những việc quan trọng trong giao tế.


Người ta cho rằng, cây cà phê được phát hiện từ thế kỷ thứ 9. Đến năm 1857, cây cà phê đầu tiên mới được đưa vào trồng thử tại Việt Nam trong khuôn viên một tu viện. Tuy vậy, có một “phong trào” trồng cà phê ồ ạt bắt đầu hồi thập niên 1980 đã đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Brazil.

Từ những hạt cà phê đầu tiên, cà phê đã nhanh chóng đi vào đời sống Việt Nam từ nông thôn đến thành thị và trở thành một thức uống rất được ưa thích. Nhìn chung, người Việt Nam có các cách thưởng thức cà phê như: cà phê đen nóng, cà phê đá, cà phê sữa nóng và cà phê sữa đá, nếu có gia giảm lượng cà phê mà tăng lượng sữa thì được gọi là bạc xỉu.
Ly cà phê sữa Việt Nam luôn khiến người nước ngoài ngạc nhiên, thích thú.

Vừa làm đồ ăn sáng, chuẩn bị cho con đi học, đang ủi đồ hoặc làm các việc khác đều có thể thưởng thức ly cà phê đầu ngày. Song, có một điều mà ai cũng đồng ý rằng: uống cà phê thường được kết hợp chung với nhiều việc, tất nhiên, không kể những lúc chúng ta đang hội họp, hay có những việc quan trọng trong giao tế.



Cà phê giúp chúng ta tập trung cao độ, kích thích sáng tạo và có một số tác động tích cực về mặt sức khỏe. Tuy nhiên, có một vài băn khoăn của nhiều người: uống bao nhiêu cà phê là vừa. Câu trả lời của các chuyên gia sức khỏe cho là nếu bạn vẫn ngủ ngon, không bồn chồn, nhịp tim bình thường, có thể kết luận rằng, lượng cà phê bạn đang dùng là vừa đủ. Ngược lại, khi xuất hiện những triệu chứng như bồn chồn, mất ngủ, cáu gắt, có thể bạn đã dùng quá liều. Khi đó, bạn nên giảm bớt lượng cà phê nạp vào cơ thể hàng ngày. Càng uống nhiều cà phê, độ nhảy cảm với caffeine càng thấp vì cơ thể đã dần thích nghi. Lần đầu tiên uống, bạn sẽ thấy tác dụng khác với khi đã quen dùng. Ngoài ra, còn có lời khuyên là nếu chúng ta uống một lượng nhỏ, chia đều cho một ngày, nhất định chúng ta sẽ luôn được tỉnh táo, minh mẫn.



Về cà phê sữa thì khá phổ biến và hết sức điển hình về cách thưởng thức cà phê của người Việt Nam. Người nước ngoài nếu có dịp thưởng thức cà phê sữa đá Việt Nam thì à lên thích thú vì nó rất khác biệt với cà phê sữa ở xứ họ. Người Việt Nam dùng sữa đặc có đường và cho cà phê đen nóng vào, cả hai đều đậm đặc và lẫn vào nhau, cho đá vào thế là có một ly cà phê thơm ngon, béo ngậy đậm đà.



Ngoài sức hấp dẫn của sự thơm ngon, đậm đà, một ly cà phê sữa cũng sẽ góp phần làm người uống tỉnh táo, tập trung cao độ vào công việc dự định. Và không chỉ vậy, nếu đã làm việc vất vả rồi thì hãy bớt chút thời gian cho riêng mình và thư giãn một chút với loại thức uống thú vị này.



Theo www.baodatviet.vn
>>Read more

Sự ám ảnh Murakami Haruki

|


Những người chết trong truyện của Murakami Haruki đều còn rất trẻ, chỉ từ 17-20 tuổi. Họ tự treo cổ, chết trong xe hơi hoặc dùng hơi ga để chấm dứt cuộc sống. Những câu chuyện buồn đã phần nào phản ánh sự thực xã hội Nhật hiện đại.



Từ những năm 90 của thế kỷ trước, tiểu thuyết “Norwegian Wood” (Rừng Nauy) của M. Haruki đã được xuất bản 2 lần tại Việt Nam, để lại ấn tượng sâu sắc trong kí ức người đọc.



Đây là cuốn tiểu thuyết viết về cuộc sống của tầng lớp thanh niên sinh viên trong những năm 60 ở Nhật Bản. Qua cuộc sống của họ, ta hiểu được phần nào xã hội Nhật Bản, một đất nước có con số những người tử tự hàng đầu trên thế giới.


Các cuốn sách của Haruki Murakami.



Câu chuyện bắt đầu bằng những hồi ức của một chàng thanh niên Torou nhớ thương người bạn gái cũ Naoko. Qua đó, những tư tưởng, diễn biễn cuộc sống sinh viên phần nào tái hiện. Số phận những người bạn đã tác động vào cuộc sống của nhân vật chính Torou. Cái chết ám ảnh trong toàn bộ tiểu thuyết.



Những người chết trong truyện của Murakami Haruki đều còn rất trẻ, chỉ từ 17-20 tuổi. Họ tự treo cổ, chết trong xe hơi hoặc dùng hơi ga để chấm dứt cuộc sống.



“Cái chết không phải là sự đối lập của cuộc sống mà là một phần của nó. Điều này nói ra bằng lời nghe thật tầm thường. Mặc dù đối với tôi hồi ấy không phải là lời mà là một cái u ở bên trong tôi. Bên trong những cái chặn giấy, bên trong bốn quả cầu đỏ trắng bên bàn bi-a, cái chết tồn tại. Và chúng ta, những người sống, hàng ngày hít thở nó vào phổi mình như hút bụi vậy”.



Cả cuốn sách toát lên sự cô đơn sâu thẳm. Nhân vật không hòa nhập được với cuộc đời thực, họ “phát điên” lên vì sợ hãi. Họ tự chơi guitar bài Rừng Nauy, Michelle, Ngày hôm qua của Beatles. Người thì tự vẫn, người chấp nhận quay trở lại trại an dưỡng, người không biết mình đã lang thang những đâu và đang ở đâu. Tất cả dường như vô vọng tuy không quá bi thảm. Cuộc sống hiện ra nhờ nhờ, mờ tối, ảm đạm - một sự “nhợt nhạt” ám ảnh sâu sắc.
30 tuổi, Murakami Haruki mới xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên: “Nghe gió hát”. Ông là một người am hiểu âm nhạc, mê Beattle, Jazz, từng là chủ nhân của một quán rượu Jazz và được giới phê bình văn học coi là người có khả năng đoạt giải Nobel trong tương lai.



Từng sinh sống ở các nước Ý, Mỹ một thời gian, Murakami trải nghiệm thế giới rồi mới trở về với tổ quốc Nhật Bản. Phương Tây tràn ngập trong truyện của Murakami, vì vậy, tác phẩm của ông luôn bị coi là mang đặc tính batasukai (bơ sữa) cho dù chúng vẫn được độc giả ưa thích và tìm đọc.



Nhưng ông không lùi bước. “Một số người cho rằng văn học là văn hóa cao và chỉ nên có một lượng độc giả nhỏ. Tôi không nghĩ như thế - Murakami Haruki khẳng định - Tôi phải chạy đua với văn hóa đại chúng, với TV, tạp chí, điện ảnh, và videogame”.



Từ điển Bách Khoa Columbia năm 2001 đã ghi nhận Murakami Haruki là “một trong những tiểu thuyết gia thế kỷ 20 quan trọng nhất của Nhật Bản”. Nhân vật của ông luôn mang theo sự hoài nghi của thời đại, sự ám ảnh về thân phận con người giữa thế giới. Họ tìm đến nhau, đồng cảm, san sẻ, rồi lại ngập sâu trong sự phi lí không dứt ra được và những lý tưởng rỗng tuếch.



Thậm chí không biết họ sống vì cái gì, băn khoăn cái gì, và vì sao lại phải chết? Những câu chuyện nho nhỏ về cuộc sống, đàn bà, về tình yêu, về tình dục, cái chết, và sự nỗ lực của lớp người trẻ đang tồn tại. Trong trạng thái của sự cô đơn, trơ trọi, mệt mỏi và buồn bã, cả nhân vật của cuốn sách lẫn độc giả đều cảm nhận rằng: Chết không đối lập với Sống mà là cái ẩn ngầm phía dưới cuộc đời ta đang sống.
Nguyễn Lan Anh
Murakami Haruki sinh năm 1949 tại Tokyo. Tốt nghiệp ngành học Nghệ thuật sân khấu, Đại học Waseda, Tokyo 1968. Ông từng sống tại Ý, là giáo sư Đại học Princeton, thường trú tại Đại học Tuft – Massachusetts.



Những tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt:

“Rừng Nauy” - tiểu thuyết.

“Đom đóm” - tập truyện ngắn.

“Ngày đẹp trời để xem Kangaroo” - tập truyện ngắn.

“Sau cơn động đất” - tập truyện ngắn.



Sắp xuất bản bằng tiếng Việt: “Biên niên sử con chim thiều vặn dây cót” (The Wind-Up Bird Chronicle), “Kafka trên bờ biển” (Kafka in the shore).
>>Read more

Đêm tàn bến Ngự -Dương Thiệu Tước

12-11-2009 |

Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng
Nhớ chăng non nước Hương Bình!
Có những ngày xanh,
Lưu luyến bao tình,
Vương mối tơ mành!

Hàng cây soi bóng nước Hương,
Thuyền xa đậu bến Tiêu Tương
Lưu luyến thay phút say hương dịu buồn.
Nhưng thoảng nghe khúc ca Nam Bình sầu than!
Như nức nở khóc duyên bẽ bàng!
Thấp thoáng trăng mờ,
Ai than ai thở đời vui chi trong sương gió.
Ai nhớ thương ai!
Đây lúc đêm tàn, tình đã lạt phai.

Thuyền ơi đưa ta tới đâu ?
Tìm trăng, trăng khuất đã lâu,
Sương xuống trên bến cô liêu, thêm sầu.
Bèo nước gió mây đêm ngắn tình dài.
Có ai nhớ, ai nơi giang đầu.


Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng.
Bến xưa non nước Hương Bình
Những phút tàn canh
Vương vấn bao tình,
Ai rứt sao đành.

Thuyền mơ trong khúc Nam Ai,
Đàn khuya trên sông ngân dài.
Ai luyến ai tiếc khúc ca Tần Hoài!
Ôi! vẳng nghe tiếng ai âm thầm trầm ngân
Như nhắn nhủ mối duyên thờ ơ,
Sông nước lững lờ,
Ai mong ai chờ đời vui chi trong sương gió.
Đây phút cô đơn
Ai oán cung đàn sầu vọng trần gian.

Thuyền ơi, đưa ta tới đâu!
Hồn thơ vương vấn canh thâu,
Thương tiếc chi phút bên nhau thêm sầu.
Bao kiếp giang hồ ly biệt thường tình.
Có ai nhớ ai nơi Hương Bình.
>>Read more

Thomas Edison và Ý tưởng về chiếc Máy Hát

|
Tại căn phòng thí nghiệm ở Menlo Park, một nơi có đủ phương tiện cho nhà phát minh tìm tòi, nghiên cứu. Edison (1847 - 1931) có một cách làm việc rất đặc biệt. Khi một ý tưởng nẩy ra trong trí óc, ông liền thử ngay bằng ngàn cách khác nhau với sự cộng tác của những người giúp việc. Vào thời đó, mặc dù nhà phát minh có hàng trăm bằng sáng chế nhưng danh tiếng của Edison chỉ thực sự được đại chúng biết tới sau ngày ông cho ra đời chiếc máy hát.



Thực ra sự phát minh này do khả năng nhận xét và suy luận của ông hơn là do công lao tìm kiếm. Vào một chiều mùa hè năm 1877, trong khi Edison đang loay hoay với chiếc máy dịch điện tín tự động, chiếc máy này gồm một mũi kim thép rạch các rãnh trên một đĩa giấy, đột nhiên khi cho đĩa quay nhanh hơn Edison đã nghe thấy tiếng cọ sát tăng lên và giảm đi tùy theo sự gồ ghề của chiếc đĩa. Sự kiện này đã ám ảnh nhà phát minh. Ông liền làm lại thí nghiệm nhưng lần này, thêm vào chiếc kim bộ phận chứa một màng mỏng. Edison nhận thấy cơ phận này đã làm tăng âm độ lên một cách đáng kể.

Các công trình khảo cứu về máy điện thoại đã khiến Edison nhận thức rằng một màng kim loại mỏng đã rung động khi nói vào một máy phát. Như thế có thể ghi lại sự rung động này trên một chất gì đó để rồi làm cho màng kim loại rung động trở lại mà phát ra các âm thanh như tiếng nói. Nửa đêm hôm đó, Edison ngồi lại văn phòng và vẽ trên giấy một bức họa về thứ máy móc sẽ thực hiện. Ngày 24/12/1877, Edison cầu chứng cho chiếc máy hát và bằng phát minh được chính phủ Hoa Kỳ cấp cho ông vào ngày 19/ 02/1878.

Một bộ máy ghi được tiếng nói và lại phát ra tiếng nói làm cho đại chúng phải bàn tán. Để làm cho mọi người tin chắc rằng máy hát nói được là một sự thật, Edison quyết định trình bày chiếc máy kỳ lạ trước Hàn Lâm Viện Khoa Học Hoa Kỳ. Sáng ngày 8/ 4/1878, nhà phát minh Edison đã xử dụng chiếc máy hát trước ông Joseph Henry, Chủ Tịch Viện Smithsonian, rồi vào buổi chiều, ông biểu diễn máy trước Hàn Lâm Viện Khoa Học. Ngay buổi tối hôm đó, Edison lại nhận được giấy mời trình bày máy hát trước Tổng Thống Rutherford B. Hayes. Nhà phát minh đã làm cho các nhân vật Tòa Bạch Cung cũng như dân chúng tin tưởng. Cả thế giới sôi nổi về phát minh này. Danh tiếng Thomas Edison được nhắc nhở tại khắp nơi. Báo chí đã nói nhiều về nhà phát minh 31 tuổi. Môt tờ báo gọi Edison là “Thầy Phù Thủy vùng Menlo Park” và danh hiệu này đã được phổ thông hóa.

Chiếc máy hát là một phát minh mà Edison rất ưa chuộng. Ông đã cải tiến máy dần dần trong nhiều năm trường để về sau này, máy được thay đổi khối trụ và tay quay bằng một đĩa tròn chuyển động do một bộ phận đồng hồ. Sự sản xuất máy hát càng ngày càng gia tăng, vào năm 1910 tiền bán máy và đĩa hát đã lên tới 7 triệu đô la. Vào năm 31 tuổi, Thomas Edison có 157 bằng phát minh và đang chờ đợi 78 bằng sáng chế khác từ Washington gửi về. Mặc dù vậy, ông vẫn không ngừng làm việc, mỗi ngày từ 18 tới 20 giờ.


Theo vietsciences
>>Read more

5 lầm tưởng về thuốc lá

|

(Dân trí) - Có rất nhiều lý do để giải thích cho một thói quen nào đó, đặc biệt là thói quen (nghiện) thuốc lá. Và đó chính là cái cớ mà những người chồng, những ông bố… viện dẫn mỗi khi vợ con cằn nhằn. Hãy nghĩ lại!

Thuốc lá gây nghiện không kém gì cocain hay heroin

Có thể tự bỏ thuốc

Nghiện nicotin rất nguy hiểm và sẽ thật khó bỏ thuốc nếu không đánh giá đúng mức sự “xảo quyệt” của nó. Theo TT Dịch vụ Sức khỏe Mỹ, ở một số người, nicotin gây nghiện không kém gì heroin hay cocain.

Vậy nên, thật may mắn khi bản thân bạn có thể tự bỏ thuốc. Còn phần lớn những người nghiện thuốc lá đều cần tới sự hỗ trợ của các liệu pháp thay thế nicotin và những hướng dẫn để có thể bỏ thuốc thành công. Thậm chí, họ còn phải rèn luyện rất nhiều mới hình thành được thói quen bỏ hẳn thuốc lá sau đó.

Hút thuốc lá bằng tẩu, thuốc lá bạc hà và thuốc lá có đầu lọc sẽ tốt hơn

Hút bằng tẩu thường được cho là hình thức có lợi cho sức khỏe vì có cảm giác lượng khói hít vào sẽ giảm xuống. Nhưng thực tế là cảm giác mát họng không đồng nghĩa với sự an toàn.

Thay vào đó, cơ thể vẫn hấp thu một lượng lớn chất như nicotin và cácbon đi-ô-xít. Và theo một nghiên cứu sơ bộ, hút thuốc bằng tẩu còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư.

Tương tự, hút thuốc lá có đầu lọc, thuốc lá chứa bạc hà và thuốc đã được lấy bớt nhựa thuốc cũng không thực sự đem lại lợi ích sức khỏe như mong đợi. Các chất hóa học gây hại vẫn lưu lại trong phổi. Và thêm vào đó, những người hút các loại thuốc lá này thường có xu hướng hít khói thuốc nhiều hơn và sâu hơn.

Và nếu bạn nghĩ rằng thuốc lá nhai tốt hơn cả thì hãy nghĩ lại. Thực tế nó làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng như ung thư miệng.

Tổn thọ không đáng kể

Có những khảo sát cho thấy những người hút thuốc lá vừa phải thấy rằng chẳng mất vài năm tuổi thọ so với những người không hút thuốc lá chỉ là “chuyện nhỏ”. Nhưng đó chỉ là một nửa câu chuyện.

Không chỉ có tuổi thọ thấp hơn mà những người hút thuốc lá còn có nguy cơ mất một nửa cuộc đời sống chung với những căn bệnh khó chịu như bệnh tim, ung thư phổi, khí thũng và mù lòa.

Một sự thật đáng buồn là hầu hết những người hút thuốc lá sẽ dành những năm tháng tốt đẹp của cuộc đời cho chứng ho hen dai dẳng, thở dốc, suy giảm thị lực…

Chỉ mình bạn bị ảnh hưởng

Trừ khi bạn cách ly khỏi mọi người mỗi khi hút thuốc, còn lại thì không thể nói là thuốc lá chỉ ảnh hưởng đến mình bạn.

Hít phải khói thuốc lá thụ động có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim hay ung thư phổi ở những người không hút thuốc.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy thậm chí ngay cả khi bạn lái xe với cửa ô tô mở hết cỡ thì những đứa trẻ ngồi ở ghế sau vẫn hít phải một lượng lớn, nếu không nói là “bội thực” khói độc thuốc lá.

Hơn thế, với thai phụ, hít phải khói thuốc lá sẽ rất có hại cho thai nhi.

Hút thuốc là nam tính

Một nghiên cứu gần đây cho thấy đấy chỉ là hiệu ứng của quảng cáo (giai đoạn thuốc lá vẫn còn được quảng cáo công khai). Thực tế, những nam giới hút thuốc có nguy cơ cao bị rối loạn cương. Thêm vào đó là hơi thở bốc mùi, răng xỉn và lúc nào cũng húng hắng ho. Vậy thì sự nam tính nằm ở chỗ nào?

Theo:Phương Uyên-HTF
>>Read more

Tiểu thuyết ‘Triệu phú khu ổ chuột' xuất bản tại Việt Nam

|

Câu chuyện về người bồi bàn nghèo nàn không xu dính túi bỗng nhiên trở thành triệu phú trong cuộc chơi "Ai là triệu phú" được kể lại trong tiểu thuyết Triệu phú khu ổ chuột phiên bản tiếng Việt, mới được xuất bản tại Việt Nam.
Câu chuyện về Ram Mohammed Thomas, một người bồi bàn nghèo nàn không một xu dính túi, chưa từng tới trường học bỗng nhiên trở thành người chiến thắng vinh quang nhất trong cuộc thi Ai là triệu phú với 13 câu hỏi hóc búa.
Nhưng sóng gió ập đến ngay sau khi chương trình kết thúc, giám đốc chương trình và nhà sản xuất đã gọi cảnh sát bắt anh vì nghi ngờ anh gian lận dù không có một bằng chứng nào. Trong khi đang bị đánh đập tại sở cảnh sát Ram được một người phụ nữ tự xưng là luật sư của anh, người anh chưa một lần gặp cứu thoát. Ram đã giải thích cho cô lý do anh trả lời được tất cả 10 câu hỏi trong trò chơi đó vì nó là cuộc đời anh từ khi là một đứa trẻ mồ côi bị bỏ lại trên bậc cửa trại tế bần.
Cuộc đời của chàng trai trẻ là một chuỗi hành trình mưu sinh, trải qua cả hạnh phúc và đắng cay, cả no đủ và đói khát, tình yêu và bi kịch… Qua câu chuyện, chân dung của đất nước Ấn Độ với mọi góc cạnh từ xã hội, đạo đức, văn hóa, thân phận con người đều được khắc họa sinh động, chân thực. Gia đình người bạn thân thiết của Ram, Salim đã bị thiêu sống cùng căn nhà của họ bởi những người theo đạo Hindu. Những đứa trẻ dưới đáy xã hội trở thành nạn nhân của kẻ giang hồ sẵn sàng biến chúng thành tàn phế để mưu lợi. Những người phụ nữ bị tước đoạt quyền tự do, bị quấy rối bởi cha ruột… Phía trên kia, nơi cuộc sống giàu sang và danh tiếng, danh dự và lòng ích kỷ đang dần giết chết tình yêu và đạo đức của con người.
y
Tác phẩm đã có mặt trên các hiệu sách toàn quốc.
Tuy nhiên, Triệu phú khu ổ chuột không phải là một bài ca buồn và bi quan. Trái lại, cuốn sách là tác phẩm ca ngợi tình yêu, lòng tin và nỗ lực không ngừng để thoát khỏi thế giới bần cùng đen tối.
Cuốn sách cũng khẳng định lòng tin của tác giả Vikas Swarup về giá trị đạo đức, lòng nhân ái trong mỗi con người. Ông sinh ra và lớn lên tại Ấn Độ trong một gia đình luật sư, từng theo học chuyên ngành Tâm lý, Lịch sử và Triết học tại đại học Allahabad University, ngôi trường được mệnh danh là Oxford của phương Đông.
Triệu phú khu ổ chuột là tác phẩm đầu tay của Vikas Swarup. Ngay khi mới ra đời đã thu hút được sự chú ý của độc giả, báo giới với nhiều giải thưởng trong và ngoài nước: giải thưởng Prix Grand Public tại hội chợ sách Paris năm 2007, được bình chọn cho giải Sách đầu tay hay nhất của Commonwealth Writers Prize (giải thưởng dành cho các tác giả của 53 nước trên thế giới). Cuốn sách được dịch ra 41 thứ tiếng.
Tác phẩm đã được đạo diễn Danny Boyle dựng thành phim Slumdog Millionaire năm 2008. Bộ phim đã "càn quét" giải thưởng điện ảnh Oscar với 8 giải quan trọng nhất. Phim đã được trình chiếu tại hệ thống rạp của Việt Nam hồi tháng 5.
Triệu phú khu ổ chuột đến với độc giả Việt qua bản dịch của dịch giả Nguyễn Bích Lan, người phụ nữ trẻ tuổi đã vượt qua nhiều thiệt thòi của số phận để trở thành một dịch giả của nhiều đầu sách văn học. Sách do Nhã Nam và NXB Văn học ấn hành.
Kim Sen-Datviet
>>Read more
Search what u wanna buy?

Ads2

Ads3

ADS4